
Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hiếu không chỉ là một đức tính căn bản mà còn là nền tảng để xây dựng nhân cách, gia đình và xã hội. Vào thế kỷ II, khi Phật giáo du nhập vào Giao Châu, Mâu Tử đã soạn Lý hoặc luận để giải trừ nghi hoặc với giới Nho sĩ và Đạo gia về Phật giáo.
Max Weber, trong thảo luận của mình về tôn giáo ở Trung Quốc, đã chỉ ra rằng ở nơi ngữ cảnh của chế độ phong kiến Trung Quốc, hiếu thảo là “đức tính tuyệt đối quan trọng”, “đức tính mà từ đó tất cả những đức tính khác sinh ra” và “nghĩa vụ quan trọng nhất của hệ thống quan liêu”(Weber 1951, tr.157-58).
Không có nỗi đau nào lớn bằng nỗi đau của người con khi mất cha mất mẹ, và cũng không có nỗi xót xa nào bằng nỗi xót xa khi hồi tưởng lại những năm tháng cha mẹ còn sống, mình đối xử chưa trọn vẹn đối với các đấng sanh thành.
Obon không những là ngày lễ nhắc nhở chúng ta về món quà mà tổ tiên đã trao lại cho mình, mà còn là dịp để thế hệ sau nhìn nhận lại những gì đã, đang và sẽ làm để xứng đáng với tổ tiên.
Quả thật, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ bao la như trời biển. Cha mẹ là thánh thần nơi chốn cao xanh, kính quý tột cùng nên không lạ gì khi tôn xưng cha mẹ là Phật, “Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế”.
Trên thế gian này không có ơn nào quý báu cao cả hơn ơn cha mẹ, nếu chúng ta quên đi ơn này, thì những cái ơn thường trong xã hội chắc gì chúng ta nhớ, chắc gì chúng ta có lòng biết ơn và đền ơn. Cho nên muốn thành con người đạo đức, trước tiên phải là người con hiếu thảo.
Trong văn hóa Việt Nam, gia đình luôn có vị trí trung tâm trong lòng mỗi người, trong đó “Đạo hiếu” hay “Thảo kính cha mẹ” là một trong những đức tính cao quý và nền tảng của cuộc sống. Đây là nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Ngày rằm tháng Bảy đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ta từ xưa đến nay. Không chỉ riêng đạo Phật, mà hễ là người Việt Nam thì đây là dịp nhắc nhớ về nguồn cội gốc gác của mình.
Rằm tháng bảy còn gọi là ngày lễ Vu lan. Đây không chỉ là ngày lễ của riêng Phật giáo mà còn là ngày lễ lớn cho những người con nước Việt, thể hiện tấm lòng hiếu thảo đối với các đấng sinh thành dưỡng dục của mình.
Đối với người Việt Nam chúng ta, việc tôn kính ông bà tổ tiên rất được đề cao. Đề cao đến độ mà việc tôn kính đã trở thành đạo lý, lẽ sống: đạo ông bà, đạo hiếu, đạo thờ cúng tổ tiên.
“Đạo Hiếu” được đón nhận và đi vào lối sống của người Việt Nam một cách tự nhiên, ở mọi thời và mọi nơi. Như thế, “Đạo Hiếu” được xem như “hạt giống của Lời” được gieo vào dòng máu và con tim của dân Việt qua muôn vàn thế hệ.
Nhiều người thường nhận định: “Người Á đông có truyền thống đạo hiếu sâu xa hơn người Tây phương” hoặc “Người Việt Nam có truyền thống đạo hiếu rất tốt”. Nhưng, hiện nay thì sao? Truyền thống đó đã đứt đoạn chăng? Có phải vì hội nhập văn hóa mà chúng ta đang đánh mất dần những truyền thống tốt đẹp?
Cách đây ít lâu, chuyên mục tư vấn trên báo điện tử Vietnamnet có đăng câu chuyện xoay quanh mối xung đột giữa cha mẹ và con cái.
Liệu bàn về chữ Hiếu có phải là một đề tài quá cũ rồi không khi cứ mỗi năm vào mùa Vu lan, báo nào cũng có nhiều bài viết về chữ Hiếu, cả xưa và nay, cả chuyện tương đồng và dị biệt giữa quan niệm của Khổng giáo và Phật giáo…
Khác với Thành Hoàng có nguồn gốc nhân thần ở miền Bắc, miền Trung, Thành Hoàng Bổn Cảnh ở Nam Bộ là nhiên thần, chỉ có danh hiệu chứ không có lý lịch, thần tích, và chỉ một phần trong số đó có sắc phong thần của triều đình với tên gọi chung là “Thành Hoàng Bổn Cảnh”.
Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm;...
Tình yêu của gia đình tại thế là thước đo của lòng hiếu thảo siêu thế. Cuộc gặp gỡ giữa đạo Hiếu của Tin Mừng và truyền thống tôn giáo Việt Nam là cao trọng như thế...
Lịch sử của hai tín ngưỡng truyền thống Nhật Bản và Việt Nam: Shinto và Đạo Mẫu, cho thấy chúng phản ánh sâu sắc tư duy của một dân tộc
Tháng ba giỗ Mẹ với đám rước trên bộ, rước từ đền Mẫu đến chùa, gắn với sự tích Thánh Mẫu quy y, nhận sự bảo trì của Phật Bà Quan Âm...
Việc thờ phụng này đã có từ rất lâu đời và phổ biến ở nhiều dân tộc, ở đồng bằng cũng như miền núi, ở cả nông thôn lẫn đô thị....